Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn hiện diện ngàn đời trong ký ức người dân đất cảng

img20260520210213 odpo

Toàn cảnh khu di tích đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm (Ảnh: Báo Văn Hóa)

Quần thể kiến trúc tâm linh này hiện là di sản vô giá, khắc họa rõ nét cuộc đời, sự nghiệp của một nhà học giả, nhà triết học, nhà tiên tri bậc thầy của Việt Nam ở thế kỷ XVI. Với những giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt tiêu biểu, di tích đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định xếp hạng là Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt vào năm 2015, trở thành điểm nhấn quan trọng trên bản đồ du lịch quốc gia.

picture2 3 638776821241527058 odwf

Ảnh: Báo Văn Hóa

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491 trong một gia đình vọng tộc tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (vùng đất này nay thuộc xã Vĩnh Am, Thành phố Hải Phòng). Ngay từ thuở nhỏ, ông đã bộc lộ tư chất thông minh xuất chúng, học lực uyên bác. Tuy nhiên, do bối cảnh xã hội giai đoạn đó có nhiều biến động sâu sắc, ông đã chọn con đường ở ẩn và mãi đến năm 45 tuổi mới quyết định tham gia khoa cử.

Trong lịch sử khoa bảng Việt Nam, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong số ít những học giả lập nên kỳ tích khoa cử khi liên tiếp đỗ đầu cả ba kỳ thi bao gồm thi Hương, thi Hội và thi Đình. Giành được học vị cao nhất là Trạng nguyên, ông được vua nhà Mạc bổ nhiệm giữ chức Hiệu thư ở Viện Hàn Lâm, sau đó lần lượt chuyển sang các chức vụ quan trọng như Đại học sĩ Tòa Đông Các, Tả thị lang Bộ Hình và Tả thị lang Bộ Lại, đồng thời được phong tước Trình Quốc Công.

Sau 8 năm tham chính, trước sự suy thoái và bất ổn của triều đình nhà Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dũng cảm dâng sớ vạch tội 18 lộng thần nhằm chấn chỉnh kỷ cương. Khi yêu cầu chính trực này không được nhà vua chấp thuận, vào mùa thu năm Nhâm Dần (1542), ông đã quyết định từ quan về quê nhà. Tại đây, ông dựng Am Bạch Vân và mở trường dạy học, mang hết tâm huyết đào tạo nên nhiều thế hệ nhân tài cho đất nước. Cho đến khi qua đời vào mùa đông năm Ất Dậu (1585) ở tuổi 95, ông vẫn luôn hướng về vận mệnh và sự tồn vong của dân tộc. Lễ tang của ông được triều đình tổ chức hết sức long trọng do Phụ chính Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu ban tế sự. Đến tháng Giêng năm 1586, vua Mạc đã ban cấp 3.000 quan tiền cùng 100 mẫu ruộng công cho làng Trung Am để xây dựng đền thờ, đồng thời ban tặng danh hiệu danh dự cao quý “Mạc Triều Trạng Nguyên Tể Tướng Từ”.

img20260520210110 ulzu

Tượng điêu khắc Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (Ảnh: Báo Văn Hóa)

Trải qua hàng trăm năm với những biến thiên của thời cuộc, ngôi đền thờ gốc đã từng bị đổ nát và phải trải qua nhiều đợt trùng tu lớn. Vào năm Vĩnh Hựu (1735) thời vua Lê Ý Tông, người dân địa phương đã trích ruộng công bán lấy kinh phí để mua gạch xây lại đền. Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), ngôi đền bị phá hủy và sau đó được dựng lại. Kiến trúc đền thờ hiện nay mang dấu ấn từ thời vua Bảo Đại, do một vị Thượng thư trí sĩ người địa phương cùng nhân dân hưng công xây dựng. Trên rường đình hiện vẫn còn khắc chìm dòng chữ “Bảo Đại Mậu Thìn niên – Mạnh đông Hoàng đại nhật”, đánh dấu thời điểm tôn tạo toàn diện công trình vào mùa đông năm 1928.

Hiện nay, bên trong Khu di tích vẫn còn lưu giữ được nhiều di vật, cổ vật có giá trị lịch sử và mỹ thuật đặc biệt. Hệ thống các bức đại tự, câu đối cổ ca ngợi quê hương, tài năng và đức độ của Trạng Trình là những hiện vật thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Tại gian chính điện, bức đại tự lớn khắc bốn chữ “An Nam Lý Học” là lời ngợi ca từ các triều đại trước và các sứ thần phương Đông dành cho Nguyễn Bỉnh Khiêm, khẳng định ông là người am hiểu sâu sắc bậc nhất về khoa lý học qua câu nói cổ “An Nam Lý Học hữu trình tuyền”.

Ngay phía dưới bức đại tự là đôi câu đối mang tư tưởng chính trị và nhân văn sâu sắc của vị danh nhân: “Cổ lai quốc dĩ dân vi bản Đắc quốc ưng tri tại đắc dân” (Dịch nghĩa: Từ xưa đến nay, nước lấy dân làm gốc; được nước là nhờ được lòng dân). Tư tưởng lấy dân làm gốc này không chỉ thể hiện cái nhìn tiến bộ của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI mà còn là bài học lịch sử giá trị cho hậu thế.

Ngoài ra, di tích còn lưu giữ bia đá “Từ vũ bi kí” niên đại Lê Trung Hưng (năm 1736) ghi chép về việc dựng lại đền, bát hương gốm men vàng nâu từ thế kỷ XVIII, cùng một tảng đá xanh hình khối chữ nhật khắc ba chữ Hán “Trường Xuân Kiều” (Cầu Trường Xuân). Đây là hiện vật tương truyền do chính tay Nguyễn Bỉnh Khiêm viết khi ông vận động, khuyến khích nhân dân địa phương xây dựng cầu giao thông phục vụ đời sống dân sinh.

img20260520210038 iepf

Khuôn viên sân đền thờ (Ảnh: Báo Văn Hóa)

Hằng năm, từ ngày 27 đến ngày 29 tháng Mười Một Âm lịch, Lễ hội đền Trạng Trình lại được tổ chức trang trọng nhằm tưởng niệm ngày mất của ông. Lễ hội diễn ra với các nghi thức cổ truyền nghiêm nghiêm như Lễ Mộc dục, Rước văn, Cáo yết, thu hút hàng vạn lượt người dân và du khách tham gia. Bên cạnh phần lễ, phần hội mang lại không khí sôi động với nhiều trò chơi dân gian và hoạt động văn hóa đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ như đấu vật, cờ tướng, múa tứ linh, đua thuyền, pháo đất, đánh đu và biểu diễn múa rối cạn, rối nước.

Một nét văn hóa mới nhưng mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc được chính quyền Thành phố Hải Phòng duy trì định kỳ tại di tích này là Lễ biểu dương học sinh – sinh viên tiêu biểu xuất sắc được tổ chức vào mỗi dịp khai giảng năm học mới. Việc vinh danh những cá nhân có thành tích học tập vượt trội ngay trước thềm đền thờ vị Trạng nguyên lỗi lạc là hoạt động thiết thực nhằm phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, hiếu học của dân tộc. Sự kiện văn hóa giáo dục này đã tạo động lực tinh thần to lớn, khích lệ thế hệ trẻ không ngừng phấn đấu, rèn luyện trên con đường học tập và lập nghiệp, đồng thời góp phần biến khu di tích thành một không gian giáo dục truyền thống sinh động, kết nối bền chặt giữa quá khứ hào hùng và tương lai phát triển của địa phương.