Làng Phúc Xá (Bắc Biên): dấu vết cộng đồng cư dân Thăng Long xưa bên sông Hồng

Bức ảnh chụp từ trên không mang ký hiệu H.158 do nhiếp ảnh gia D. Mercier thực hiện vào thời Pháp thuộc không chỉ ghi lại một góc Hà Nội cổ kính, mà còn lưu giữ dấu tích vô giá của cộng đồng ven sông được cho là đã tồn tại từ trước khi kinh đô Thăng Long hình thành. Suốt gần một thiên niên kỷ, dòng chảy văn hóa của cộng đồng ấy vẫn liên tục được nối dài qua ba địa danh đại diện cho các thời kỳ: An Xá, Cơ Xá và Phúc Xá (Bắc Biên).

img0566 lvll

Bức ảnh H.158 (Ảnh: Báo Văn Hóa)

Huyền tích gắn với cuộc dời đô lịch sử

Dưới chân cầu Long Biên lịch sử, hình ảnh làng hiện lên như một lát cắt nguyên vẹn của làng quê Bắc Bộ xưa với những mái nhà tranh san sát, những nương dâu bạt ngàn, vườn chuối xanh rì và các lối đi nhỏ đan xen giữa xóm làng ven sông. Đó chính là vùng Cơ Xá – Trung Hà, mắt xích quan trọng kết nối dòng chảy lịch sử từ làng An Xá thời Lý đến vùng đất Bắc Biên ngày nay.

Theo các tư liệu lịch sử và thần tích địa phương, khu vực An Xá xưa (nay thuộc vùng lõi nội thành Hà Nội) từng là nơi cư trú của một cộng đồng ven sông đông đúc, trù phú từ trước khi vua Lý Thái Tổ dời đô về đây vào năm 1010. Truyền thuyết dân gian kể rằng, chính tại chùa An Xá, vua Lý Công Uẩn đã nhìn thấy một điềm lành kỳ lạ: một con chó cái sinh được tám con – điềm báo về một vùng đất địa linh nhân kiệt.

Trong tâm thức của người Việt cổ, việc chọn nơi định đô luôn gắn liền với thiên mệnh. Sự xuất hiện của An Xá trong những truyền thuyết gắn với buổi đầu khai sinh kinh đô Thăng Long cho thấy vùng bãi bồi này đã mang ý nghĩa tâm linh đặc biệt từ rất sớm. Khi nhà vua chính thức hạ chiếu dời đô, để nhường đất xây dựng hoàng thành, một bộ phận lớn cư dân An Xá đã tự nguyện di dời ra vùng bãi bồi ven sông Hồng. Họ mang theo toàn bộ nếp sống, tín ngưỡng thờ tự cùng nghề canh cửi trồng dâu nuôi tằm truyền thống để lập nên phường Cơ Xá. Vì thế, lịch sử làng Bắc Biên không đơn thuần là lịch sử của một ngôi làng ven sông, mà chính là câu chuyện về một cộng đồng cư dân nền tảng, những người đã góp phần đặt viên gạch đầu tiên tạo dựng và bồi đắp cho kinh đô Thăng Long.

Văn hóa sông nước theo dòng chảy Hồng hà

Qua những trận hồng thủy trong lịch sử, dòng chảy sông Hồng đã nhiều lần đổi dòng, xé toạc đất đai và đẩy một phần dải đất của làng ra giữa lòng sông, hình thành nên vùng Cơ Xá Châu. Sau khi rời khỏi nội thành, do không còn nhiều ruộng lúa như các làng đồng bằng thuần nông khác, cư dân Cơ Xá phải học cách nương tựa hoàn toàn vào dòng sông. Họ sinh kế bằng cách trồng dâu nuôi tằm trên các bãi bồi mới nổi, đánh bắt cá và phát triển mạnh nghề vận tải đường thủy.

Theo các tư liệu cổ ghi lại, triều đình phong kiến từng đặc biệt cho phép dân làng Cơ Xá được quyền thu thuế tàu thuyền, bến đò dọc theo tuyến sông để bảo đảm đời sống. Đặc quyền này đã nhào nặn nên một lớp văn hóa sông nước rất riêng biệt của cư dân Thăng Long xưa: Họ không chỉ là những người nông dân chân lấm tay bùn, mà còn là một cộng đồng giao thương đường thủy nhạy bén. Dấu tích của văn hóa sông nước ấy hiện vẫn lưu giữ nguyên vẹn qua đền Mẫu Thoải ở Bắc Biên – nơi thờ vị thần cai quản sông nước (Thủy cung Thánh Mẫu). Đây là không gian tâm linh mà cộng đồng cư dân ven sông Hồng suốt nhiều thế kỷ qua vẫn tìm đến để gửi gắm niềm tin và duy trì đời sống tín ngưỡng gắn bó mật thiết với dòng sông mẹ.

Giữ hồn làng bên bờ Bắc sông Hồng

Khi bãi giữa sông Hồng tiếp tục bị sạt lở mạnh do dòng xiết, cư dân Cơ Xá lại một lần nữa phải thực hiện cuộc di cư lớn sang bờ Bắc, lập nên Cơ Xá Bắc, sau này chính là làng Bắc Biên. Trong cuộc thiên di lịch sử này, người dân đã cẩn trọng mang theo từng bài vị, sắc phong cùng tục thờ Thái úy Việt Quốc công Lý Thường Kiệt – vị anh hùng dân tộc kiệt xuất, người được xác định chính là một người con của làng An Xá xưa.

Hằng năm, cứ vào ngày giỗ của ông (mùng 6 tháng 3 âm lịch), các đình làng có chung nguồn gốc gốc từ An Xá cổ vẫn duy trì nghi lễ rước kiệu, dâng lễ vật xuyên sông về đình Phúc Xá – Bắc Biên để đồng lòng dâng hương tưởng niệm. Nghi lễ độc đáo này như một sợi dây tâm linh thắt chặt tình cảm dòng tộc của những người con chung một gốc tổ.

picture4 gedf

Làng Phúc Xá – Bắc Biên (Ảnh: Báo Văn Hóa)

Điều quý giá nhất ở Bắc Biên hôm nay không chỉ nằm ở những mái đình, ngôi chùa hay đền cổ trầm mặc, mà nằm ở chính thực tế: Cộng đồng cư dân vẫn đang sống và thở cùng các không gian di sản ấy. Di sản nơi đây không bị đóng băng trong tủ kính bảo tàng, nó được nuôi dưỡng bằng chính những hậu duệ vẫn hằng ngày gìn giữ lễ đình, lễ đền, nếp dâng hương và duy trì các sinh hoạt cộng đồng như thế hệ cha ông từ ngàn năm trước.

Làng có thể phải dời, dòng sông có thể nhiều lần đổi hướng, nhưng hồn làng và mạch ký ức ngàn năm của Thăng Long xưa vẫn được người dân Bắc Biên bền bỉ gìn giữ, nối truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ bờ bên này sang bờ bên kia sông Hồng. Rõ ràng, điều cần được bảo tồn cấp bách ở Bắc Biên không chỉ là những kiến trúc vật thể như mái đình, ngôi đền cổ, mà là cả một không gian văn hóa sống, một hạ tầng ký ức đã kiên cường tồn tại suốt hàng nghìn năm bên dòng sông lịch sử của thủ đô Hà Nội.