Chuyển đổi số văn hóa: Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo cho đất nước

Lần đầu tiên xây dựng hệ sinh thái văn hóa số toàn diện và bao trùm

Đề án thể hiện một tầm nhìn dài hạn và cách tiếp cận toàn diện khi lần đầu tiên đưa chuyển đổi số văn hóa vào một cấu trúc hệ sinh thái đầy đủ. Hệ sinh thái này bao quát từ hạ tầng dữ liệu, nền tảng công nghệ đến việc phát triển nguồn nhân lực và thị trường công nghiệp văn hóa số. Thay vì chỉ dừng lại ở các hoạt động số hóa di sản hay xây dựng cơ sở dữ liệu rời rạc, đề án đã mở rộng quy mô sang toàn bộ chuỗi giá trị văn hóa: từ khâu sáng tạo, sản xuất, phân phối cho đến tiêu dùng các sản phẩm văn hóa trên môi trường số. Bước chuyển tư duy mang tính cốt lõi này đã thay đổi căn bản định hướng, chuyển từ “bảo tồn để gìn giữ” sang “bảo tồn để phát triển”.

Tính chất bao trùm của đề án được thể hiện rõ nét qua việc nhìn nhận văn hóa như một cơ thể sống động. Hệ sinh thái này đan cài giữa di sản vật thể, phi vật thể, hệ thống thư viện, bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, báo chí, truyền thông cho đến các lĩnh vực mới nổi thuộc ngành công nghiệp văn hóa số.

1 ejhx

Ứng dụng mã QR tại di sản Mỹ Sơn để du khách chủ động tìm hiểu về di tích (Ảnh: Báo Văn Hóa)

Đáng chú ý, đề án mang tính nhân văn sâu sắc khi hướng nguồn lực đến các nhóm yếu thế và các cộng đồng tại vùng sâu, vùng xa – những đối tượng vốn chịu nhiều hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ văn hóa chất lượng cao. Mục tiêu phổ cập văn hóa số đến mọi tầng lớp nhân dân khẳng định triết lý phát triển không để ai bị bỏ lại phía sau của Đảng và Nhà nước.

Về mặt xu thế, đề án bắt nhịp nhanh chóng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi ứng dụng các công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR) để tái cấu trúc không gian văn hóa. Tuy nhiên, định hướng của Chính phủ không chạy theo công nghệ một cách hình thức. Đề án đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về việc bảo vệ bản sắc, giữ gìn chủ quyền văn hóa trên không gian mạng và phát triển các nội dung số mang đậm dấu ấn, tinh thần Việt Nam. Đây chính là điểm cân bằng tinh tế giữa hiện đại và truyền thống, giữa hội nhập toàn cầu và giữ gìn cốt cách dân tộc.

Mục tiêu lượng hóa rõ ràng và những thách thức từ thực tiễn

Tính khả thi của đề án được đánh giá cao nhờ vào hệ thống các chỉ tiêu cụ thể đã được lượng hóa một cách rõ ràng. Việc đặt ra các cột mốc lớn như 100% di sản văn hóa được số hóa, 100% cơ quan quản lý văn hóa kết nối và khai thác chung kho dữ liệu cùng phần lớn người dân được tiếp cận các dịch vụ văn hóa số thể hiện quyết tâm rất lớn của Chính phủ.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng nhìn nhận thẳng thắn rằng khoảng cách từ mục tiêu chiến lược đến thực tiễn vận hành là một thử thách không nhỏ. Khối lượng công việc đồ sộ, năng lực triển khai hạ tầng kỹ thuật không đồng đều giữa các địa phương, các cấp chính quyền hành chính và sự thiếu hụt nguồn lực đầu tư sẽ là những rào cản cần phải sớm có giải pháp tháo gỡ.

Để bảo đảm đề án đi vào cuộc sống một cách thực chất, ba trụ cột chiến lược được xác định bao gồm: thể chế, tài chính và nhân lực. Trong đó, thể chế được yêu cầu phải đi trước một bước nhằm xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng, mở đường cho các mô hình vận hành mới hoạt động hiệu quả.

Về mặt tài chính, mặc dù đề án đã xác định ngân sách nhà nước giữ vai trò là "vốn mồi", nhưng việc thiếu các cơ chế cụ thể để thu hút dòng vốn xã hội hóa vẫn là một điểm nghẽn lớn. Thời gian tới, ngành văn hóa cần sớm hình thành các công cụ kinh tế đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp tham gia sâu, đi kèm các mô hình tài chính linh hoạt như Quỹ phát triển văn hóa số, cơ chế chia sẻ lợi ích từ khai thác dữ liệu số hoặc các hình thức đối tác công – tư (PPP) trong bảo tồn di sản.

Bên cạnh tài chính, nguồn nhân lực được đánh giá là yếu tố then chốt, quyết định sự thành bại của toàn bộ tiến trình. Chuyển đổi số văn hóa đòi hỏi một thế hệ nhân sự đặc thù – những người không chỉ am hiểu thuần túy về công nghệ thông tin mà còn phải thấm nhuần sâu sắc các giá trị văn hóa, sở hữu tư duy sáng tạo cùng năng lực vận hành hệ sinh thái số. Nếu không có một chiến lược đào tạo, bồi dưỡng bài bản và các chính sách đãi ngộ đủ hấp dẫn để thu hút nhân tài, các nền tảng công nghệ dù hiện đại đến đâu cũng khó có thể phát huy tối đa giá trị.

Cơ hội bứt phá cho các đô thị di sản và sức mạnh mềm quốc gia

Xét trong bối cảnh địa phương, đề án số 611/QĐ-TTg mở ra cơ hội phát triển vượt bậc cho các đô thị giàu tài nguyên di sản và có hệ thống chính quyền hai cấp đang vận hành linh hoạt như Hà Nội, Huế, Ninh Bình, Quảng Ninh hay Hội An. Công nghệ số giúp các di sản có thể "sống" lại trong một không gian hoàn toàn mới, tiếp cận dải công chúng rộng lớn hơn, đồng thời tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế. Với hạ tầng công nghệ được đầu tư đúng hướng, thành phố Huế hoàn toàn có thể vươn lên trở thành một trung tâm dữ liệu di sản lớn, một không gian trải nghiệm văn hóa số đặc sắc của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

1 cynt

Khách du lịch quét mã QR khi tham quan tại các điểm du lịch (Ảnh: Báo Văn Hóa)

Xét đến cùng, giá trị cốt lõi của chuyển đổi số văn hóa không nằm ở các thiết bị công nghệ hiện đại. Công nghệ chỉ đóng vai trò là phương tiện, là công cụ truyền tải. Điều mang tính quyết định chính là tư duy nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực sống, một động lực nội sinh cho phát triển kinh tế – xã hội.

Sự ra đời của Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đã vạch ra một lộ trình đúng đắn. Việc biến các định hướng chiến lược này thành những kết quả thực tế trên thực địa đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, sự sáng tạo và linh hoạt của tất cả các cấp, các ngành. Khi các mục tiêu này được hiện thực hóa, văn hóa Việt Nam không chỉ hiện diện mạnh mẽ trên môi trường số mà còn kiến tạo nên một hệ sinh thái sáng tạo bền vững, biến văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia thực sự, đồng hành cùng sự thịnh vượng của đất nước trong kỷ nguyên số.