Năm 2025, đại võ sư quốc tế Trương Văn Bảo được bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Khoa học trực thuộc Viện Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Đông Nam Á, tiếp tục đóng góp tâm huyết cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Trong những chia sẻ đầy tâm huyết, ông đặc biệt nhắc đến Tháp Pô Klong Garai và “Ký ức Phan Rang” như những biểu tượng mang đậm dấu ấn lịch sử, văn hóa và tâm hồn của vùng đất đầy nắng gió, góp phần lưu giữ bản sắc quý báu của dân tộc Việt Nam qua thời gian.
DI TÍCH THÁP PÔ KLONG GARAI (Viện Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Đông Nam Á)
Người xưa đâu mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu?
Lầu các đâu nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu! (Nhạc sĩ Xuân Tiên)
Tháp Pô Klong Garai (Tiếng Anh: The Po Klong Garai Towers – Tiếng Pháp: Les tours de Po Klong Garai) ở Tháp Chàm, Phan Rang, Ninh Thuận (sau sáp nhập là tỉnh Khánh Hòa), được xếp vào Di tích Quốc gia đặc biệt (The Artistic Architectural remains of the Po Klong Garai Towers)

Tháp Pô Klong Garai là Tháp Chàm, tháp của dân tộc Champa. Văn hóa Champa mạng đậm nét Ấn Độ giáo và Phật giáo, để lại nhiều di sản kiến trúc, nghệ thuật độc đáo vẫn tồn tại đến ngày nay. Champa (hay còn gọi là Chiêm Thành, Chiêm Bà) là vương quốc cổ tồn tại độc lập liên tục từ năm 192 đến năm 1832, là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất trong lịch sử Đông Nam Á. Cương vực của vương quốc lúc hùng mạnh nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn (Quảng Bình ngày nay) ở phía Bắc đến Bình Thuận ở phía Nam, và từ biển Đông sâu vào tận miền núi phía Tây nước Lào hiện đại, bao gồm cả phần Cao nguyên Trung phần của Việt Nam.
Tài liệu của Di tích Quốc gia đặc biệt về Tháp Pô Klong Garai chép rằng: Tháp Pô Klong Garai là quần thể tháp Chăm, được xây dựng vào cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, trên ngọn đồi Trầu, phường Đỗ Vinh, thành phố Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận.
Quần thể tháp Pô Klong Garai có 3 ngôi tháp: Tháp Cổng, có chiều cao 8,56 mét; Tháp Lửa có chiều cao 9,31 mét; Tháp Chính có chiều cao 20,5 mét là nơi thờ vị vua anh minh Pô Klong Garai (1151-1205). Nằm ở phía Tây (sau ngôi tháp Chính) có một ngôi miếu xây để thờ Hoàng hậu Bia Thalkol, vợ của vua Pô Klong Garai.


Vua Pô Klong Garai trị vì dân tộc Chăm từ năm 1167-1205. Cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn với nhiều sự tích thần thoại khá ly kỳ, đươc nhân dân ngưỡng mộ và kính nhớ, đặc biệt là các công trình thủy lợi mà đến nay vẫn còn, cụ thể như đập Nha Trinh và đập Lâm Cấm ngày nay.
Di tích gắn liền với tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Chăm ở địa phương. Hằng năm nơi đây diễn ra các lễ hội như:
– Lễ Yuơr Yang, tổ chức vào tháng 4 Chăm lịch (khoảng tháng 6, 7 Dương lịch). – Lễ hội Katê, tổ chức vào tháng 7 Chăm lịch (khoảng tháng 9, 10 Dương lịch). – Lễ Cambur, tổ chức vào tháng 9 Chăm lịch (khoảng tháng 11, 12 Dương lịch). – Lễ Peh Bi Mbeng Yang, tổ chức vào tháng 11 Chăm lịch (khoảng tháng 2, 3 Dương lịch).
Di tích Tháp Pô Klong Garai là một công trình lịch sử văn hóa có giá trị kiến trúc nghệ thuật điêu khắc độc đáo, đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định xếp hạng “Di tích Kiến trúc Nghệ thuật Quốc gia Đặc biệt” vào ngày 22/12/2016.


Tháp Chàm, 24/5/2026
KÝ ỨC PHAN RANG (Viện Nghiên cứu, Bảo tồn và Phát triển Văn hóa Đông Nam Á)
Phan Rang là tên gọi cũ của tỉnh Ninh Thuận, một tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Nam Trung Phần Việt Nam, cách Sài Gòn 340 cây số về phía Nam, cách Nha Trang 100 cây số theo Quốc lộ 1A và cách Đà Lạt 110 cây số theo Quốc lộ 27. Vùng đất này từng là kinh đô Panduranga của Vương quốc Champa. Lịch sử nguồn gốc Phan Rang chép rằng: Phan Rang (tiếng Chăm hiện đại là Pan-da-rang) là từ được Chăm hóa của từ gốc tiếng Phạn Pāṇḍuraṅga – tên của một vị thần trong tín ngưỡng Champa cổ, xuất hiện trên các bia ký Chăm vào khoảng thế kỷ thứ 10 với tên gọi Paṅrauṅ hay Panrāṅ, và theo thời gian được phiên âm Việt hóa thành Phan Rang. Còn tên Tháp Chàm được đặt để chỉ cụm tháp Pôklong Garai nằm ở phía Tây thành phố.
Phan Rang là lãnh thổ của tiểu quốc Panduranga. Tiểu quốc này được thành lập vào năm 757, là một lãnh thổ tự trị thuộc vương quốc Champa, và có thủ phủ tại thành phố Phan Rang – Tháp Chàm ngày nay.
Năm 1471, kinh đô Vijaya thất thủ trước Đại Việt, Champa mất các lãnh thổ miền Bắc từ đèo Cù Mông trở ra. Người Chăm tập trung quay về khu vực phía Nam với vương quốc mới là Panduranga, kinh đô được đặt tại Băl Cau (cạnh sông Phan Rang), kể từ đó vùng đất Phan Rang lại trở thành kinh đô Panduranga của vương quốc Champa trong vòng 142 năm (1471-1613). Năm 1697, chúa Nguyễn đổi tên hành chính của Panduranga thành trấn Thuận Thành. Phần lãnh thổ phía Nam của Phan Rang ngày nay thuộc về trấn Thuận Thành, khi đó chúa Nguyễn chia Thuận Thành làm 4 đạo: Phan Lang, Long Hương, Phan Lý, Phố Hài. Đến năm 1832 thì nhà Nguyễn xóa đi quy chế tự trị của Panduranga để thành lập 2 phủ: Ninh Thuận và Hàm Thuận.

Ký ức Phan Rang không thể không nhớ đến Phi trường Phan Rang của Không quân Việt Nam Cộng hòa (Phan Rang Air base). Đây là phi trường quân sự và dân sự lớn, quan trọng, có thể tiếp nhận các phản lực cơ chiến đấu hiện đại, kể cả Boeing. Phan Rang cũng còn là một mặt trận lớn, giao chiến khốc liệt với cấp quân đoàn dẫn vào hồi kết chiến sự. Dọc Quốc lộ 20 rồi tiếp theo là Quốc lộ 27 là con đường lịch sử ghi dấu lúc 21 giờ thứ Hai ngày 31/3/1975 các đơn vị quân sự của Việt Nam Cộng hòa từ Đà Lạt, Tuyên Đức và các nơi khác, có cả nhiều người dân đi theo, vượt đèo Ngoạn mục xuống Chi khu Sông Pha, di chuyển về Phan Rang, Phan Thiết, Bình Tuy theo Quốc lộ 1A… rồi đến Sài Gòn. Sau đó, vào lúc 11:30 ngày 30/4/1975 Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Chiến tranh kết thúc nhưng Phan Rang cũng đã phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề về sinh mạng con người, để lại bao tang thương, mất mát và đau khổ cho người Việt. Nhiều người lính của cả hai bên tử trận nơi đây.
Những chiến binh Quân Giải phóng tử trận được quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ. Những chiến binh Việt Nam Cộng hòa chết trong trận chiến bảo vệ phi trường Phan Rang vào ngày 16/4/1975 khi phòng tuyến Phan Rang bị tan vỡ trước Quân Giải phóng. Ban đầu, các tử sĩ được chôn cất ngay tại phi trường, sau đó được cải táng về chân Núi Ngỗng. Hiện nay chỉ có một tấm bia cho khu mộ tập thể, còn lại nằm rải rác gần như vô danh không bia mộ, thậm chí không có nấm mồ! Sau này, 17/3/2013, có một nhóm thân nhân và người dân thiện nguyện dự tính xây một nhà bia tưởng niệm chung. Họ nói: “Để cho các anh sau này có nơi trú nắng, trú mưa, vì nhiều anh em quá, không thể lấy cốt được, hơn nữa cho đến bây giờ không còn biết của ai, là ai?”. Một vết thương chiến cuộc đau buồn sâu thẳm cho quê hương Việt Nam nói chung và Phan Rang nói riêng.

Phan Rang, 24/5/2026
(Hình ảnh của người viết và tham khảo các nhiếp ảnh gia khác trên internet)
