Theo đề án, Dàn nhạc dân tộc quốc gia Việt Nam được định hướng trở thành một biểu tượng nghệ thuật mang tầm quốc gia và quốc tế. Mục tiêu cụ thể đặt ra là đến giai đoạn 2026 – 2027 sẽ hoàn thiện dàn nhạc có quy mô chuẩn mực, đáp ứng các chương trình nghệ thuật trọng đại. Tới năm 2031, đơn vị này sẽ phát triển thành một “không gian nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam”, đủ năng lực dẫn dắt các sự kiện văn hóa lớn trong nước và hội nhập sâu rộng với thế giới.

Dàn nhạc giao hưởng truyền tải văn hóa Việt (Ảnh: Sưu tầm)
Điểm nhấn nổi bật của Dàn nhạc dân tộc quốc gia chính là sự kết hợp giữa tính dân tộc bản địa và tư duy tổ chức hiện đại. Dàn nhạc được xây dựng trên cơ sở tiếp thu tinh hoa hình thức tổ chức của các dàn nhạc giao hưởng thế giới, chia thành các bộ nhạc cụ dựa trên cường độ âm thanh và màu sắc đặc trưng. Trong đó, các nhạc cụ dây gảy đóng vai trò hạt nhân, tạo nên âm sắc đa dạng và bản sắc riêng biệt cho âm nhạc Việt Nam.
Cơ cấu của dàn nhạc không chỉ dừng lại ở các nhạc cụ dân gian thuần túy mà còn bao gồm các loại nhạc cụ truyền thống đã được cải tiến về tính năng. Đặc biệt, Đề án cho phép sự kết hợp linh hoạt với một số bộ nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng phương Tây và các giọng hát theo những nguyên tắc nghệ thuật nhất định. Sự giao thoa này nhằm phục vụ việc trình diễn các tác phẩm đương đại và các kiệt tác âm nhạc thế giới được chuyển soạn riêng, giúp âm nhạc dân tộc vừa giữ vững căn tính, vừa nâng cao khả năng hội nhập.
Dàn nhạc dân tộc quốc gia Việt Nam sẽ đảm nhận nhiều nhiệm vụ chiến lược như: dàn dựng các chương trình nghệ thuật đặc sắc phục vụ sự kiện chính trị, ngoại giao cấp Nhà nước; sưu tầm, lưu giữ và sáng tạo thể nghiệm âm nhạc dân gian theo hướng hiện đại; ứng dụng khoa học – công nghệ để phát triển âm nhạc truyền thống. Ngoài ra, dàn nhạc cũng đóng vai trò cầu nối quốc tế thông qua việc liên kết với các đơn vị nghệ thuật nước ngoài để trình diễn các tác phẩm chất lượng cao.

Trình diễn âm nhạc dân gian (Ảnh: Báo Đại biểu Nhân dân)
Về mô hình tổ chức, Dàn nhạc do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và giao cho Nhà hát Ca, Múa, Nhạc Quốc gia Việt Nam trực tiếp quản lý, điều hành. Để đảm bảo tính tinh gọn, Đề án quy định không phát sinh tổ chức bộ máy mới trực thuộc Nhà hát. Tùy theo tính chất và quy mô của từng chương trình, Nhà hát sẽ chủ động bổ sung nghệ sĩ, cộng tác viên để đảm bảo tính chuyên nghiệp cao nhất.
Kinh phí hoạt động của dàn nhạc được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm nguồn kinh phí tự chủ của Nhà hát, ngân sách Nhà nước đặt hàng cho các chương trình, vở diễn theo kế hoạch hàng năm và nguồn xã hội hóa từ viện trợ, tài trợ. Cách tiếp cận đa dạng về tài chính này giúp dàn nhạc có điều kiện phát triển bền vững và giảm áp lực lên ngân sách công.
Việc cho ra đời Dàn nhạc dân tộc quốc gia Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của nhân dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, mà còn khẳng định khát vọng phồn vinh của đất nước thông qua sức mạnh nội sinh từ văn hóa. Đây sẽ là một hành trình dài hơi, hứa hẹn tạo nên dấu ấn Việt đậm nét trên bản đồ âm nhạc thế giới.
